Muốn cắt khẩu có cần sự đồng ý của chủ hộ?

Muốn cắt khẩu có cần sự đồng ý của chủ hộ?

4440
SHARE

Con của em do em đăng ký khai sinh, nhưng do tiện cho việc học của con sau này, nên em đã đồng ý bằng văn bản cho con em đuợc nhập hộ khẩu bên ông bà ngoại. Nếu sau này em muốn nhập lại hộ khẩu cho con về với ông bà nội thí làm thế nào? Có cần sự đồng ý phía gia đình bên ngoại bằng văn bản hay không? Hay em muốn nhập lại là quyền của em, và thủ tục thế nào?

Muốn cắt khẩu có cần sự đồng ý của chủ hộ?
Muốn cắt khẩu có cần sự đồng ý của chủ hộ? Ảnh : internet

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 27 Luật Cư trú năm 2006 sửa đổi bổ sung 2013 tách sổ hộ khẩu được quy định như sau:

“1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.”

Đối với trường hợp của con bạn nêu trên, do trước đây con bạn nhập hộ khẩu vào nhà ông bà ngoại, nên thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3, Điều 25 Luật Cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013. Vì vậy, để thực hiện được việc tách sổ hộ khẩu cần phải có sự đồng ý của chủ hộ. Ngoài ra, điều 13 Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013 quy định nơi cư trú của người chưa thành niên như sau:

“1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.

2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.”

Theo quy định này nếu nơi cư trú của con bạn khác nơi cư trú của bạn, cha đứa bé thì cần phải có được sự đồng ý của bạn, cha đứa bé.

Mặt khác, về thủ tục đăng ký thường trú quy định tại Điều 6 Thông tư 35/2014/TT-BCA và Điều 21 Luật Cư trú như sau:

“Điều 21. Thủ tục đăng ký thường trú:

1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:

a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;

b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

2. Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

a) Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;

b) Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;

c) Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.

Trường hợp có quan hệ gia đình là ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, cháu ruột chuyển đến ở với nhau; người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng, người khuyết tật mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với người giám hộ thì không phải xuất trình giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp nhưng phải xuất trình giấy tờ chứng minh hoặc xác nhận của Ủy bannhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn là Ủy ban nhân dân cấp xã) về mối quan hệ nêu trên.

3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.”

Về hồ sơ đăng ký thường trú của người chưa thành niên: Ngoài các giấy tờ chung có trong hồ sơ đăng ký thường trú quy định nêu trên thì phải có văn bản đồng ý của bố, mẹ theo khoản 2 Điều 6 Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9 tháng 9 năm 2014 quy định: “Người chưa thành niên nếu không đăng ký thường trú cùng cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ mà đăng ký thường trú cùng với người khác thì phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã;.”

Mong rằng nội dung tư vấn có thể giải đáp phần nào vướng mắc của bạn.

Nguyễn Thị Mỹ Hiền

Nguồn: Chuyên mục tư vấn pháp luật miễn phí do hãng luật Giải Phóng thực hiện



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.