Bình luận tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự...

Bình luận tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân trong BLHS 2015

1508
SHARE

Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân là một tội mới theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 mà trước đó chưa xuất hiện tại BLHS 1999.

bo-luat-hinh-su-2015
Bình luận tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,

Đây là một điều luật quy định về tội ghép, tức là nhiều tội phạm được thiết kế trong một điều luật với các khung hình phạt tương ứng nhau. Theo đó điều 167 BLHS 2015 thực chất quy định về 4 tội danh liên quan đến các quyền cơ bản của công dân. Quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin và quyền biểu tình của công dân. Đây là các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam.

Theo đó tại điều 25 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.” Hiện nay chúng ta chưa có Luật điều chỉnh trực tiếp về vấn đề tự do ngôn luận và biểu tình, mới chỉ có Luật báo chí (đang có hiệu lực thi hành)  và Luật tiếp cận thông tin (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018).

Quyền tự do ngôn luận được thừa nhận như là một quyền con người trong Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền và được thừa nhận trong luật nhân quyền quốc tế tại Điều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights – ICCPR). Theo đó, mọi người đều có quyền tự do thể hiện; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng của tất cả các loại, không kể biên giới, bằng miệng, bằng văn bản hoặc ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác của sự lựa chọn của mình.

Tự do báo chí hay tự do thông tin là một trong những quyền căn bản nhất của con người, được hầu hết các quốc gia công nhận bằng văn bản luật, thậm chí Hiến pháp. Theo điều 4 Luật báo chí 1989, thì quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Công dân có quyền: “Được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới ; Tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài, ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin ; Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới ; Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ;

Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức đó.”

Quyền tiếp cận thông tin là việc công dân được đảm bảo các quyền về tiếp cận thông tin là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin. Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Quyền biểu tình hiện nay chưa được quy định cụ thể và pháp luật Việt Nam cũng chưa có văn bản nào quy định rõ ràng về biểu tình và các thức thực hiện quyền biểu tình. Nhưng có thể hiểu đây là hành vi phản đối một vấn đề nào đó của nhóm người dưới hình thức hòa bình, không bạo động.

  1. Về phía người phạm tội

Hành vi khách quan của người thực hiện tội phạm là dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân. Như vậy hành vi ở đây có thể diễn ra dưới hình thức hành động (dùng vũ lực, đe doạn dùng vũ lực) nhằm tác động và cản trở đến hoạt động thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của công dân trong tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin và biểu tình. Hành vi này cũng có thể được diễn ra dưới những thủ đoạn khác,có thể là không hành động. Ví dụ như cố tình chậm trễ trong việc công bố thông tin, không tạo điều kiện cho người khác thực hiện các quyền nêu trên hoặc các thủ đoạn khác ngoài việc dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để thực hiện việc cản trở. Tuy nhiên theo quy định tại điều 167 BLHS 2015, hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin và biểu tình chỉ bị xử lý hình sự khi người thực hiện hành vi đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, đó là điều kiện bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Như vậy không phải mọi trường hợp cứ có hành vi xâm phạm các quyền trên là sẽ rơi vào trường hợp phạm tội tại điều 167 BLHS 2015.

Về hậu quả: Đây là tội phạm cấu thành hình thức, tức là chỉ cần có hành vi xâm phạm các quyền và đã đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự thì hoàn toàn có thể bị xử lý về tội danh này. Người thực hiện hành vi phạm tội có thể gây ra hậu quả, có thể hậu quả chưa xảy ra trên thực tế. Bởi để đánh giá hậu quả từ việc xâm phạm các quyền nêu trên của công dân trên thực tế là rất khó khăn và rộng. Khi tác động sử dụng vũ lực,có thể gẩy ra nguy hại đến tính mạng, sức khỏe. Đe dọa sử dụng vũ lực có thể gây ra những tổn thương về tinh thần, sức khỏe và sử dụng các thủ đoạn khác thì hậu quả cũng có thể rất rộng và khó lường hết. Điều cơ  bản khi xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh này là việc các hành vi phạm tội diễn ra đã ngăn cản người khác thực hiện các quyền nêu trên trên thực tế, tức là từ hành vi đó những người muốn tiếp cận thông tin không thể tiếp nhận thông tin hoặc khó khăn trong tiếp nhận thông tin. Không thể hoặc khó khăn trong việc thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận hoặc tiến hành cuộc biểu tình. Điều 167 BLHS 2015 chỉ quy định là “cản trở” tức là gây khó khăn trong thực hiện, chứ không bắt buộc là “không thể thực hiện được”, đó là mối quan hệ nhân quả rõ ràng đối với tội danh này.

Ý chí của người thực hiện hành vi phải là cố ý. Bởi việc sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm ngăn cản người khác thực hiện các quyền công dân xuất phát hoàn toàn từ sự định đoạt từ ý chí chủ quan của người phạm tội. Cố ý có thể là cố ý trực tiếp, người phạm tội hiểu rõ hậu quả của việc cản trở và cố tình thực hiện mọi hành vi để cản trở. Hoặc có thể là cố ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức được hậu quả nhưng để mặc hậu quả xảy ra. Lỗi cố ý gián tiếp trong tội này thường biểu hiện dưới dạng không hành động. Ví dụ cơ quan báo chí không cung cấp thông tin báo chí cần thiết và hợp pháp tới người yêu cầu mặc dù đã nhận được yêu cầu hay việc người quản lý, lưu giữ thông tin cố tình giấu nhẹm thông tin và không cung cấp nhằm cản trở người khác tiếp cận với nguồn thông tin hợp pháp.

Người phạm tội phải là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Đây không phải là tội danh có chủ thể đặc biệt nên không yêu cầu chỉ có những người có chức vụ quyền hạn mới bị truy cứu về tội danh này.

  1. Về phía nạn nhân

Người bị xâm phạm và cản trở các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin và quyền biểu tình trước hết phải là người có các quyền nêu trên. Bởi quyền của công dân có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Như vậy không phải mọi trường hợp, mọi thời điểm công dân đều có quyền này.

Yêu cầu thực hiện quyền cũng phải là chính đáng thì hành vi bị cản trở mới được xem là có dấu hiệu tội phạm. Ví dụ như việc yêu cầu cung cấp thông tin nhằm mục đích bôi nhọ nhà nước, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức khác thì người có trách nhiệm hoàn toàn có quyền từ chối. Việc thực hiện các quyền phải tuân thủ các quy định của pháp luật quy định về thực hiện các quyền này. Tức là không phải mọi hành vi cản trở đều được xem là có dấu hiệu hình sự mà cần sự xem xét, đồng bộ ở rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành mới khẳng định được.

3. Về hình phạt

Phạm tội theo khoản 1 điều 167 BLHS 2015 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp được nêu tại khoản 2 điều 167 BLHS 2015 là Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Ngoài ra Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665, trong trường hợp thuê luật sư bào chữa khẩn cấp gọi đường dây nóng luật sư 0963 113113.

 An Nguyên



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.