Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động

Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động

815
SHARE

Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động được quy định tại Điều 216 Bộ luật hình sự là một tội phạm hoàn toàn mới mà trước đó BLHS 1985 cũng như BLHS 1999 chưa từng quy định.

Việc hình sự hóa hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là đáp ứng yêu cầu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động, bảo vệ các quan hệ pháp luật và những quy định trong lĩnh vực lao động được nghiêm chỉnh thực thi.

bo-luat-hinh-su-20151.jpg
Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là tội mới

Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội 2014, Luật bảo hiểm y tế sửa đổi 2014, Luật việc làm 2013 thì việc tham gia các loại bảo hiểm nêu trên là nghĩa vụ của người lao động cũng như người sử dụng lao động. Khoản 1 điều 186 Bộ luật lao động khẳng định: “Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.”

Trên thực tế, mặc dù có rất nhiều quy định kiểm soát việc tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động của chủ sử dụng lao động nhưng vẫn tồn tại thực tế trốn đóng các loại bảo hiểm này. Thực trạng đó diễn ra một cách thường xuyên,dưới nhiều hình thức gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực lao động, tới việc đảm bảo quyền và lợi ích cho người lao động và cho nhà nước cũng như việc duy trì công bằng xã hội. Để tránh hiện tượng này xảy ra, BLHS 2015 đã quy định về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động tại Điều 216.

  1. Về phía người phạm tội.

a.Chủ thể thực hiện tội phạm: Căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 216 BLHS 2015, chủ thể thực hiện tội phạm tại điều 216 BLHS 2015 có khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đó là người có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Như vậy đây là chủ thể đặc biệt, có nghĩa chỉ những chủ thể có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mới có khả năng phải chịu trách nhiệm hình sự khi trốn đóng bảo hiểm xã hội. Hiểu một cách đơn giản, chủ thể thực hiện tội phạm ở đây là cá nhân người sử dụng lao động bởi đây là chủ thể được pháp luật quy định có nghĩa vụ  thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến việc đóng các loại bảo hiểm nêu trên cho người lao động. Ngoài cá nhân phạm tội, căn cứ theo quy định tại Điều 76 BLHS 2015 thì tội phạm này nằm trong phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Như vậy cá nhân và pháp nhân là 2 chủ thể của tội phạm này.

b. Hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội ở đây bao gồm tổng hợp nhiều hành vi được thể hiện dưới hai dạng chung nhất là sử dụng những thủ đoạn gian dối hoặc thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên. Thủ đoạn gian dối có thể được hiểu là việc giả mạo các hóa đơn chứng từ liên quan đến việc sử dụng lao động hoặc cố tình khai báo không trung thực với cơ quan bảo hiểm xã hội về nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội của người có nghĩa vụ đóng bảo hiểm. Ngoài ra, việc sử dụng các thủ đoạn khác có thể được hiểu là những giao kèo, thỏa thuận trái pháp luật để ép hoặc yêu cầu người lao động không tham gia bảo hiểm để người sử dụng lao động trốn tránh việc đóng bảo hiểm xã hội…

Tuy nhiên cần lưu ý, không phải mọi trường hợp trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn điều kiện ràng buộc.

Thứ nhất là nếu trường hợp hành vi không đóng đầy đủ thì phải từ 06 tháng trở lên mới có khả năng bị xử lý. Ở đây điều luật không quy định 06 tháng liên tục nên được hiểu là cộng dồn đủ 06 tháng trong cả quá trình đóng bảo hiểm cho người lao động là sẽ đủ căn cứ về mặt thời gian.

Thứ hai là phải thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 216 BLHS 2015, đó là các trường hợp: Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

Thứ ba là đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN rồi nhưng vẫn vi phạm.

Phải đủ 3 yêu tố nêu trên thì mới đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự người có nghĩa vụ đóng bảo hiểm nhưng trốn đóng.

c.Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Đây là tội phạm cấu thành hình thức, tức là không xem xét về hậu quả của việc trốn đóng bảo hiểm mà người có trách nhiệm đã thực hiện gây ra đối với người lao động. Ví dụ như việc trốn đóng bảo hiểm khiến cho người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu, trốn đóng bảo hiểm gây thất thoát cho quỹ bảo hiểm xã hội, trốn đóng bảo hiểm khiến cho người lao động không đủ điều kiện hưởng các chế độ về thai sản, tai nạn, ốm đau… Hậu quả không phải là căn cứ xác định mà bản chất của tội phạm cấu thành hình thức quan trọng nhất là xác định hành vi phạm tội và những tình tiết cấu thành tội phạm trong cấu thành cơ bản của tội phạm này.

d.Lỗi: Lỗi là ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi khi thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp này phải là lỗi cố ý, bởi ngay trong tên tội danh đã thể hiện điều này. “Trốn” có nghĩa thể hiện thái độ chủ động, tích cực và cố tình trong việc thực hiện các hành vi gian dối hoặc sử dụng các thủ đoạn khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ đóng các loại bảo hiểm nêu trên. Lỗi trong tội này có thể dưới dạng lỗi cố ý trực tiếp, là việc người có nghĩa vụ đóng bảo hiểm biết rõ về hành vi phạm tội và hậu quả của việc thực hiện, thể hiện thái độ tích cực trong thực hiện tội phạm để đạt được mục đích khi thực hiện hành vi trốn đóng bảo hiểm. Cũng có thể diễn ra dưới dạng lỗi cố ý gián tiếp, là việc người có trách nhiệm đóng bảo hiểm hiểu rõ về trách nhiệm của mình, nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định và hiểu rõ về hậu quả có thể xảy ra khi trốn tránh đóng bảo hiểm xã hội, bản thân người phạm tội cũng để mặc cho việc trốn tránh xảy ra.

2.Về phía nạn nhân

Nạn nhân bị tác động bởi hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là người lao động. Cần lưu ý người lao động là một chủ thể có nghĩa vụ tham gia các loại bảo hiểm nêu trên. Nhưng cách thực hiện bảo hiểm khi là người lao động của một người sử dụng lao động thì bắt buộc việc đóng BHXH, BHYT và BHTN đều phải thông qua người sử dụng lao động chứ không trực tiếp thực hiện với cơ quan bảo hiểm xã hội. Người lao động bị trốn đóng bảo hiểm xã hội phải là người có hợp đồng lao động (dưới mọi hình thức) với người sử dụng lao động bởi đây là căn cứ quan trọng phát sinh quyền và nghĩa vụ về việc tham gia các loại bảo hiểm giữa các bên. Hậu quả xảy ra từ hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội rất rộng lớn, có thể khiến người lao động bị ảnh hưởng trong việc tính thời gian đóng bảo hiểm, ảnh hưởng trong việc nhận các loại trợ cấp từ bảo hiểm hoặc việc tham gia và chi trả khi thực hiện khám chữa bệnh. Tuy nhiên hậu quả xảy ra với nạn nhân không phải là căn cứ xác định trách nhiệm hình sự đối với tội danh này.

  1. Về hình phạt

Theo quy định tại khoản 1 điều 216 BLHS 2015, người nào trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Pháp nhân phạm tội thì thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

Trong khoản 2 tăng nặng đối với tội danh này. Nếu người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Phạm tội 02 lần trở lên; Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người; Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm. Pháp nhân phạm tội thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

Tại khoản 3 tăng nặng, thuộc trường hợp trốn đóng trên 1 tỷ đồng hoặc trên 200 người trở lên hoặc không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều 216 thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Pháp nhân phạm tội thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665, trong trường hợp thuê luật sư bào chữa khẩn cấp gọi đường dây nóng luật sư 0963 113113.

An Nguyên



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.