Bình luận BLLS 2015: Tội cưỡng bức lao động

Bình luận BLLS 2015: Tội cưỡng bức lao động

601
SHARE

Tội cưỡng bức lao động được quy định tại điều 297 BLHS 2015. Đây là một tội mới được quy định trong mục 3 BLHS 2015: Các tội khác xâm phạm an toàn công cộng.

Bình luận BLLS 2015: Tội cưỡng bức lao động
Bình luận BLLS 2015: Tội cưỡng bức lao động

Cưỡng bức lao động ở đây không hiểu là có những hành vi cưỡng bức người lao động để nhằm mục đích chính là xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người lao động. Cưỡng bức lao động ở đây là cưỡng bức giá trị sức lao động của người lao động, tức là bản chất của hành vi cưỡng bức lao động mặc dù nạn nhân là người lao động nhưng mục đích chính là nhắm vào sức lao động của người lao động nhưng không loại trừ các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe nếu xảy ra.

Về phía người phạm tội.

a.Chủ thể thực hiện tội phạm

Theo quy định tại khoản 1 điều 297 BLHS 2015 thì không quy định chủ thể đối với tội cưỡng bức lao động là chủ thể đặc biệt tức là mở rộng chủ thể thực hiện tội phạm đối với tất cả những người thực hiện hành vi phạm tội được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội này. Khi nhắc đến quan hệ lao động, thông thường người lao động bị cưỡng bức bởi chủ sử dụng lao động trong việc thực hiện các nhiệm vụ, công việc lao động. Nhưng điều luật này không bó hẹp phạm vi chỉ người sử dụng lao động mới có thể trở thành chủ thể thực hiện tội cưỡng bức lao động, mà còn có thể là những người khác có liên quan đến quan hệ lao động này ví dụ như người quản lý, người được chủ sử dụng lao động giao thực hiện các công việc tại cơ sở có sử dụng lao động hoặc giữa chính những người lao động với nhau. Ví dụ trường hợp A là chủ sử dụng lao động, có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động thì sẽ rất rõ nếu đặt trong quan hệ lao động. Nhưng cũng có thể A chỉ là người quản lý (phó giám đốc, chủ phân xưởng, tổ trưởng, quản đốc…) mà có thực hiện các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động thì vẫn có thể trở thành chủ thể của tội này. Ngoài ra, một người lao động khác thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động thì vẫn thỏa mãn cấu thành của tội này về mặt chủ thể. Điều này cho thấy mặc dù quy định trong quan hệ lao động, nhưng không giới hạn rằng chủ thể thực hiện hành vi phải có quan hệ lao động với nạn nhân mà có thể là bất cứ người nào ép buộc người khác lao động thì đều có khả năng thỏa mãn cấu thành tội phạm đối với tội danh này

b.Hành vi phạm tội.

Theo quy định tại điều 297 BLHS, hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội Cưỡng bức lao động là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động.

Như vậy các hành vi được mô tả bao gồm:

Dùng vũ lực: Là sử dụng sức mạnh bạo lực thông qua các hành vi như đấm, đá, tát, đánh, đập tác động bằng ngoại lực vào cơ thể của nạn nhân. Hành vi dùng vũ lực có thể thể hiện dưới nhiều động tác khác nhau  và mục đích chính khi sử dụng vũ lực là nhằm ép người khác phải lao động. Điều này để phân biệt với hành vi dùng vũ lực trong các tội khác như cố ý gây thương tích, cưỡng dâm, hiếp dâm…

Đe dọa dùng vũ lực: Là việc sử  dụng bạo lực tinh thần thông qua các hành vi, hành động hoặc dưới hình thức không hành động nhằm làm cho người lao động lo sợ rằng hành vi sử dụng bạo lực sẽ diễn ra, từ đó buộc họ phải thực hiện việc lao động mà người cưỡng bức lao động đã ép buộc họ tiến hành.

Thủ đoạn khác: Là việc sử dụng các thủ đoạn ngoài dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ví dụ như các biện pháp ép buộc về tinh thần, ràng buộc về các điều kiện vật chất, công việc khiến cho người lao động phải miễn cưỡng làm việc theo yêu cầu của người cưỡng bức lao động đặt ra.

Hậu quả của tội phạm

Tội cưỡng bức lao động tại điều 297 BLHS 2015 là tội phạm cấu thành hình thức. Tức là hậu quả của việc cưỡng bức lao động không phải là căn cứ duy nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi cưỡng bức lao động.

Theo quy định tại khoản 1 điều 297 BLHS, người thực hiện hành vi cưỡng bức lao động được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội phạm này nếu thuộc một trong 3 trường hợp được quy định tại khoản 1 điều này thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cưỡng bức lao động.

“a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.”

Trong 3 trường hợp này, chỉ có điểm b và điểm c là người thực hiện hành vi gây ra hậu quả và dùng hậu quả đế làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn đối với điểm a là xét về nhân thân và lý lịch của người thực hiện hành vi phạm tội. Bởi vậy hậu quả không phải là căn cứ bắt buộc đối với tội danh này khi một người thực hiện hành vi cưỡng bức lao động.

Về phía nạn nhân

Nạn nhân của tội cưỡng bức lao động về cơ bản nhất là người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng với người sử dụng lao động. Tuy nhiên cũng như phía chủ thể thực hiện hành vi được mở rộng không chỉ đối với người sử dụng lao động, nạn nhân của tội phạm này cũng không bin bó hẹp trong phạm vi người lao động mà ngoài ra còn có thể là bất cứ cá nhân nào bị cưỡng ép phải thực hiện lao động.

Như vậy nạn nhân là người đã bị người phạm tội có những hành vi tác động bằng bạo lực vật chất, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ép buộc phải thực hiện hành vi lao động trái ý muốn. Có thể không gây ra hậu quả tổn hại về sức khỏe, tính mạng nhưng chắc chắn trong các trường hợp này, phải có tổn hại về tinh thần từ phía nạn nhân. Bởi sự ép buộc là nhằm khống chế về tinh thần để buộc người khác phải thực hiện công việc lao động theo ý muốn của người thực hiện hành vi phạm tội.

Về hình phạt

Theo quy định tại khoản 1 điều 297 BLHS 2015, phạm tội theo cấu thành cơ bản của tội danh này thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Với mức cao nhất của khung hình phạt là 03 năm tù, phạm tội theo khoản 1 điều này thuộc loại tội ít nghiêm trọng.

Theo quy định tại khoản 2 điều 297 BLHS 2015, phạm tội thuộc một trong các trường hợp của khoản này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp thuộc khoản 3 điều 297 BLHS 2015 thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Ngoài ra, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tội cưỡng bức lao động là tội danh mới, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền tự do lao động của công dân, đến sức khỏe, tính mạng, danh dự nhân phẩm của người lao động. Bởi vậy việc nắm bắt và cập nhật pháp luật hình sự là cần thiết để biết và hiểu hơn về điều luật này, nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng cũng như giải quyết các tranh chấp, thiệt hại phát sinh khi có yêu cầu.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665 để gặp luật sư hoặc truy cập mục hỏi đáp pháp luật để tìm hiểu thêm.

An Nguyên

Nguồn: Chuyên mục tư vấn pháp luật miễn phí do hãng luật Giải Phóng thực hiện

Khi cần thuê luật sư vui lòng liên hệ với hãng luật Giải Phóng qua email lgp@lgp.vn hoặc gọi đường dây nóng luật sư qua số 0963 113 113.



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.