Dùng chứng cứ ngoại tình, để đòi bồi thường được không?

Dùng chứng cứ ngoại tình, để đòi bồi thường được không?

687
SHARE

Xin hỏi luật sư: tôi làm cán bộ đoàn thể ở UBND xã, đã có vợ và 2 con, do quan hệ vợ chồng sống khác quan điểm, xác định sẽ li hôn nên tôi có quan hệ tình cảm với người khác.

Chúng tôi chưa có con chung, không có tài sản chung, không sống chung, chỉ lén lụt gặp nhau và bị vợ bắt quả tang, cũng trong thời gian đó tôi đòi vợ li hôn, vợ tôi lấy lí do này định tố cáo để tôi bị đuổi việc và phát tán bằng chứng trên mạng xã hội để làm xấu mặt tôi. Đến nay chúng tôi đã li thân được 2 năm đó vợ tôi đòi bồi thường danh dự, tiền công đã làm việc cho gia đình tôi là 100 triệu và chia tài sản chung là 50 triệu nữa thì chấp nhận ly hôn và không tố cáo tôi, nếu không cô ta sẽ tố cáo tôi, nhưng tôi chưa có tiền để cho vợ tôi. Với tình tiết trên nếu vợ tôi tố cáo thì tôi có bị kỷ luật đuổi việc không; việc vợ tôi yêu cầu phải đưa cho số tiền lớn như vậy để không tố cáo tôi thì có bị Pháp luật xử lí không và xử lý như thế nào. Tôi phải làm thế nào để không bị đuổi việc và không phải đưa cho cô ta số tiền lớn đó vì tôi nhận nuôi cả 2 con. Xin cảm ơn luật sư.

Dùng chứng cứ ngoại tình, để đòi bồi thường được không?
Dùng chứng cứ ngoại tình, để đòi bồi thường được không?

Dưới đây là nội dung tư vấn của luật sư:

Chào bạn!

Đối với vướng mắc của bạn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Trước hết về phía bạn và người bạn gái kia, như bạn trình bày, mặc dù bạn vẫn chưa ly hôn vợ – đang trong thời kỳ hôn nhân và có quan hệ lén lút với người khác. Tuy nhiên bạn và người bạn kia không chung sống như vợ chồng do đó hành vi của hai bạn như quan để chung của xã hội được xem là ngoại tình, tuy nhiên dưới góc độ của pháp luật, hành vi của các bạn chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cụ thể theo khoản 1 điều 147 Bộ luật hình sự (BLHS) về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Trong đó theo hướng dẫn tại thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, “chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…

Bên cạnh đó, chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu: Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng (làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v); hoặc người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm…

Qua phân tích sơ lược ở trên, bạn hoàn toàn không có hành vi vi phạm pháp luật để bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Về vấn đề công việc của bạn, bạn làm việc trong tổ chức đoàn thể do đó bạn thuộc đối tượng là cán bộ, công chức. Việc xử lý kỷ luật, giải quyết thôi việc đối với bạn được quy định trong luật cán bộ, công chức và hướng dẫn cụ thể tại nghị định số 34/2011/NĐ-CP (nghị định 34) về xử lý kỷ luật đối với công chức. Trong đó tại điều 14 nghị định 34 quy định về các trường hợp áp dụng hình thức xử lý kỷ luật buộc thôi việc như sau:

Điều 14. Buộc thôi việc

Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

  1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo;
  2. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị;
  3. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;
  4. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử dụng công chức thông báo bằng văn bản 03 lần liên tiếp;
  5. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức.

Như vậy nếu bạn bị tố cáo về hành vi có quan hệ tình cảm với người khác trong khi đang còn trong thời kỳ hôn nhân với vợ thì cơ quan của bạn cũng không có lý do gì để buộc bạn thôi việc. Hơn nữa theo các quy định về các hình thức xử lý kỷ luật khác theo nghị định 34, hành vi của bạn cũng không thuộc bất cứ trường hợp bị xử lý kỷ luật nào cả.

Đối với hành vi của vợ bạn đòi bạn phải đưa tiền bồi thường mới đồng ý ly hôn và không tố cáo, đây là hành vi có dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điều 135 bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009).

Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

  1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

  1. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tuy nhiên như thông tin bạn trình bày, mối quan hệ giữa bạn và vợ đã đổ vỡ từ lâu và không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được… do đó cách tốt nhất là nên chấm dứt tình trạng này. Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, việc hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, việc hôn nhân không như ý là rủi ro mà cả hai bên phải gánh chịu do đó pháp luật hoàn toàn không có quy định về việc bồi thường thiệt hại trong vấn đề này là hợp tình hơp lý. Về vấn đề ly hôn, cả hai bên vợ chồng đều có quyền yêu cầu ly hôn cho nên khi làm hồ sơ ly hôn gửi đến tòa án nhân dân, không nhất định phải có cả hai bên đồng ý ký vào đơn thì tòa mới thụ lý giải quyết. Bạn hoàn toàn có quyền đơn phương ly hôn. Tòa án sẽ giải quyết ly hôn với ba vấn đề: giải quyết ly hôn (mối quan hệ nhân thân), con chung, và tài sản chung.

Dùng chứng cứ ngoại tình, để đòi bồi thường được không?
Dùng chứng cứ ngoại tình, để đòi bồi thường được không?

Do bạn không cho biết con của bạn bao nhiêu tuổi, tuy nhiên nếu bạn yêu cầu nuôi hai con và vợ bạn đồng ý thì không có tranh chấp trong vấn đề này. Về vấn đề tài sản, tài sản chung về nguyên tắc được chia đôi. Tài sản riêng của ai thuộc về người đó. Không có sự phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Do đó vợ bạn yêu cầu chia tài sản chung là đúng, tuy nhiên việc yêu cầu bồi thường danh dự có phần thiếu căn cứ, còn việc trả tiền công mà vợ bạn đã làm việc cho gia đình bạn cần phải xem lại là tiền công làm việc gì, tiền công đó là tài sản chung hay tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân của hai bạn…

Tóm lại, vấn đề của vợ chồng bạn không nghiêm trọng đến mức cần phải có sự can thiệp của pháp luật hình sự. Việc vợ bạn đòi bạn trả tiền mới đồng ý ly hôn có thể vì không hiểu biết pháp luật, về quyền lợi của mình, vì một phút nóng nảy bốc đồng nên mới đưa ra yêu cầu như vậy… Cho nên bạn nên giải thích lại với vợ và thương lượng lại về việc chia tài sản chung và thỏa thuận ly hôn. Nếu vẫn không thể tìm được tiếng nói chung, bạn có thể nộp đơn khởi kiện ly hôn đến tòa án nhân dân để được thụ lý giải quyết.

Mong rằng nội dung tư vấn sẽ giải đáp thắc mắc của bạn.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665 để gặp luật sư hoặc truy cập mục hỏi đáp pháp luật để tìm hiểu thêm.

Mai Hoa

Nguồn: Chuyên mục tư vấn pháp luật miễn phí do hãng luật Giải Phóng thực hiện

Khi cần thuê luật sư vui lòng liên hệ với hãng luật Giải Phóng qua email lgp@lgp.vn hoặc gọi đường dây nóng luật sư qua số 0963 113 113.



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.