Chồng sống chung với người tình có phạm tội?

Chồng sống chung với người tình có phạm tội?

319
SHARE

Chồng tôi đuổi tôi ra khỏi nhà và đưa người phụ nữ khác về sống chung như vợ chồng trong căn nhà này. Giờ tôi muốn ly hôn, nhưng chồng không ký vào đơn ly hôn. Tôi phải làm sao để được ly hôn?. Trước khi cưới tôi, bố mẹ chồng có cho chồng tôi mảnh đất. Sau khi kết hôn thì 2 vợ chồng tôi xây nhà trên mảnh đất này và 2 chúng tôi có mua thêm một mảnh đất khác. Cho tôi hỏi là nếu ly hôn thì đất và nhà sẽ được chia như thế nào? Chồng tôi ngoại tình như vậy thì có bị tội gì không?

Chồng sống chung với người tình có phạm tội?
Chồng sống chung với người tình có phạm tội?

Dưới đây là nội dung tư vấn của luật sư:

Chào bạn!

Đối với vướng mắc của bạn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đồng thời tại Khoản 1 Điều 56 có quy định chồng/vợ vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng là một trong những căn cứ cho việc ly hôn. Theo đó chồng bạn đã sống chung như vợ chồng với người phụ nữ khác trong khi đang có mối quan hệ hôn nhân với bạn, đây là hành vi bị cấm theo pháp luật về hôn nhân gia đình (điểm c khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014), vi phạm nghiêm trọng chế độ hôn nhân một vợ một chồng được pháp luật bảo vệ. Do đó, bạn hoàn toàn có quyền nộp đơn khởi kiện ly hôn đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi người chồng cư trú. Đây là trường hợp đơn phương ly hôn cho nên không cần phải có chữ ký của chồng bạn trên đơn. Việc xem xét và giải quyết cho ly hôn trong trường hợp hòa giải không thành thuộc thẩm quyền của tòa án chứ không phụ thuộc vào ý kiến của chồng bạn là có cho hay không cho ly hôn. Bạn nên chuẩn bị chứng cứ để nộp cùng với hồ sơ ly hôn làm căn cứ vững chắc để tòa giải quyết yêu cầu ly hôn của bạn.

Về vấn đề chia tài sản khi ly hôn, pháp luật hôn nhân gia đình tôn trọng sự thỏa thuận về vấn đề giải quyết tài sản khi ly hôn giữa các bên, khi thỏa thuận không thành thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định cuối cùng. Theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì nguyên tắc giải quyết tài sản khi ly hôn như sau: đối với tài sản riêng của người nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu người đó, tài sản chung về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo như thông tin bạn cung cấp, trước khi kết hôn chồng bạn đã được bố, mẹ chồng cho mảnh đất thì đất này được xác định là tài sản riêng của chồng bạn theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân gia đình 2014 nên sau khi ly hôn đất này vẫn thuộc quyền sử dụng của chồng bạn. Còn đối với căn nhà và đất do 2 vợ chồng cùng tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân thì đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng nên về nguyên tắc mỗi người sẽ được hưởng ½ giá trị đất và nhà và có tính đến các yếu tố khác như phân tích phía trên.

Về vấn đề chồng bạn chung sống như vợ chồng với người khác trong thời kỳ hôn nhân với bạn, như đã đề cập đến ở trên thì hành vi của chồng bạn cùng người phụ nữ kia là vi phạm pháp luật. Tùy theo tính chất và mức độ của hành vi mà có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp xử lý vi phạm hành chính thì chồng bạn sẽ bị phạt với mức tiền là 1 triệu – 3 triệu (điểm b khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 35 Điều 1 Nghị định 65/2015/NĐ-CP).

“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1.     Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

….

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;”

Nếu hành vi đủ để cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS 1999 – sửa đổi 2009) thì chồng bạn sẽ bị truy tố. với tội này hình phạt nhẹ nhất cảnh cáo, cao nhất là phạt tù đến 01 năm.

“Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Mong rằng nội dung tư vấn sẽ giải đáp thắc mắc của bạn.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665 để gặp luật sư hoặc truy cập mục hỏi đáp pháp luật để tìm hiểu thêm.

Cẩm Thy

Nguồn: Chuyên mục tư vấn pháp luật miễn phí do hãng luật Giải Phóng thực hiện

Khi cần thuê luật sư vui lòng liên hệ với hãng luật Giải Phóng qua email lgp@lgp.vn hoặc gọi đường dây nóng luật sư qua số 0963 113 113.



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.