Ngoại tình khi chưa ly hôn có phạm tội?

Ngoại tình khi chưa ly hôn có phạm tội?

2319
SHARE

Tôi và chồng tôi kết hôn được 3 năm và có với nhau một bé trai được 2 tuổi. Thời gian sau khi sinh thì chồng tôi và tôi nảy sinh những bất đồng và quyết định ly thân khoảng 1 năm nay. Con thì do tôi chăm sóc. Trong khoảng thời gian này thì tôi nảy sinh tình cảm với người đàn ông khác. Tôi không biết là chồng tôi cũng theo dõi điện thoại, tin nhắn của tôi trong khoảng thời gian này. Tôi nghĩ là anh ta đã lén cài phần mềm vào điện thoại của tôi. Đến hôm nay thì chồng tôi đem những tin nhắn giữa tôi và người tôi quen ra, nói rằng sẽ kiện tôi tội ngoại tình và dành quyền nuôi con.

Tôi xin quý hãng giải đáp những thắc mắc của tôi là:

- Tôi có phạm luật hôn nhân và gia đình không?

- Nếu ra tòa thì tôi có giành được quyền nuôi con không?

- Chồng tôi có phạm luật xâm phạm quyền riêng tư của tôi không?

Xin chân thành cảm ơn!

Ngoại tình khi chưa ly hôn có phạm tội?
Ngoại tình khi chưa ly hôn có phạm tội?

Dưới đây là nội dung tư vấn của luật sư:

Chào bạn!

Đối với vướng mắc của bạn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Thứ nhất về mối quan hệ tình cảm của bạn, bạn và người kia chỉ có quan hệ tình cảm và nhắn tin qua lại… mặc dù theo quan niệm xã hội đó được xem là ngoại tình. Tuy nhiên theo quy định của pháp luật Việt Nam, không có khái niệm “ngoại tình”, do đó bộ luật hình sự cũng không có quy định về “tội ngoại tình”. Do đó theo điều 2 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, có hiệu lực đến 30/6/2016 (sau đây gọi là BLHS 1999): “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”; thì bạn và cả người mà bạn quen đều không phạm tội.

Để bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, tôi xin cung cấp một số thông tin như sau:

Tại khoản 1 điều 147 Bộ luật hình sự (BLHS) về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Trong đó theo hướng dẫn tại thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, “chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…

Bên cạnh đó, chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu: Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng(làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v); hoặc người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” nghĩa là đã bị xử phạt hành chính về hành vi đã có vợ/ chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ/ chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đã có chồng/ vợ (chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng) nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Hình thức xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi này theo quy định của pháp luật hiện hành là phạt tiền. Theo đó, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 7 luật xử lý vi phạm hành chính, thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp này là 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (01 năm kể kể từ ngày ra quyết định, trừ đi khoản thời gian cá nhân bị xử phạt có hành vi trốn tránh, trì hoãn việc thi hành quyết định xử phạt (nếu có) – điều 74 luật xử lý vi phạm hành chính).

Trở lại trường hợp của của bạn, trong thực tế cuộc sống hành vi “ngoại tình” được hiểu rộng hơn nhiều so với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng nhìn từ góc độ pháp lý nói trên. Và ở nhiều mức độ biểu hiện khác nhau: như nhắn tin qua điện thoại, gặp gỡ nhau, chung sống với nhau… đều có thể xem là ngoại tình. Tuy nhiên như đã đề cập đến ở trên, dù bạn chưa ly hôn với chồng nhưng việc bạn có quan hệ tình cảm với người khác ở mức độ như bạn đã trình bày thì bạn và người bạn kia hoàn toàn không vi phạm pháp luật.

Nếu vợ chông bạn ly hôn thì lúc này con của bạn chưa đủ 3 tuổi, mà về nguyên tắc theo khoản 3 điều 81 luật Hôn nhân và gia đình, khi ly hôn, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Điều kiển để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con được đánh giá dựa trên các tiêu chí: Thu nhập, nơi ở có ổn định không?; Môi trường sống có đảm bảo cho sự phát triển cả về tinh thần lẫn thể chất của con hay không?; Ngoài thời gian làm việc bạn có thời gian để chăm sóc con hay không? Sự quan tâm, chăm sóc của bạn giành cho con?; Hành vi, đạo đức của người cha/mẹ muốn được quyền trực tiếp nuôi con như thế nào – có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và sự phát triển của con không?

Nếu bạn đáp ứng được điều kiện nuôi con – có thể bảo đảm cho con có điều kiện được chăm sóc, giáo dục tốt nhất thì bạn sẽ đương nhiên dược trao quyền trực tiếp nuôi con. Tình tiết con vẫn do bạn chăm sóc sau khi hai người ly hôn là một lợi thế đối với bạn. Trường hợp người cha có thể chứng minh người này có điều kiện để chăm sóc cho con tốt hơn bạn và chứng minh được bạn không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con.

Mặc dù trong trường hợp hai bên có tranh chấp về quyền nuôi con có yêu cầu tòa giải quyết thì tòa sẽ căn cứ vào việc chứng minh của hai bên, và lợi ích về mọi mặt của con chung để đưa ra quyết định. Tuy nhiên qua trình bày của bạn thì bạn có lợi thế hơn trong việc tranh chấp quyền nuôi con.

Ngoài ra, bằng việc tự ý theo dõi tin nhắn, điện thoại của bạn chồng bạn đã xâm phạm quyền bí mật đời tư của bạn. Theo điều 38 bộ luật dân sự, quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và bảo vệ cụ thể như sau:

Điều 38. Quyền bí mật đời tư

  1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
  2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
  3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Do vậy để bảo vệ quyền bí mật đời tư của mình, bạn có thể yêu cầu chồng mình chấm dứt ngay hành vi này, trường hợp người này vẫn tiếp tục hành vi này, bạn hoàn toàn có quyền gửi đơn khởi kiện dân sự đến tòa án nhân dân nơi người chồng có nơi cư trú, làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Mong rằng nội dung tư vấn sẽ giải đáp thắc mắc của bạn.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665 để gặp luật sư hoặc truy cập mục hỏi đáp pháp luật để tìm hiểu thêm.

Mai Hoa

Nguồn: Chuyên mục tư vấn pháp luật miễn phí do hãng luật Giải Phóng thực hiện

Khi cần thuê luật sư vui lòng liên hệ với hãng luật Giải Phóng qua email lgp@lgp.vn hoặc gọi đường dây nóng luật sư qua số 0963 113 113.



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.