LS tố cáo thân chủ: ‘Quy định vô lý, thiếu tính thực...

LS tố cáo thân chủ: ‘Quy định vô lý, thiếu tính thực tiễn và trái với chuẩn mực’

157
SHARE
Luật sư Nguyễn Kiều Hưng
Luật sư Nguyễn Kiều Hưng

Trả lời phỏng vấn của tạp chí Nhà Quản Lý, luật sư Nguyễn Kiều Hưng, điều hành hãng luật Giải Phóng – Đoàn luật sư TP.HCM, cho rằng, cần phải loại bỏ quy định “luật sư phải tố cáo thân chủ” kể cả với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Bởi luật sư Hưng cho rằng, về nghĩa vụ công dân thì các luật sư vẫn phải thực hiện. Nhưng khi hai bên xác lập quan hệ khách hàng, thì việc bảo mật thông tin khách hàng ngoài nghĩa vụ còn là lương tâm trách nhiệm, và đã được pháp luật quy định. Ông cho rằng quy định này trái với chuẩn mực hành nghề luật sư.

– Thưa ông, trong đời làm luật sư, ông đã có bao giờ lỡ làm lộ thông tin khách hàng lần nào chưa?

Chưa bao giờ và nguyên tắc nghề nghiệp không cho phép điều đó xảy ra.

– Về việc giữ bí mật thông tin khách hàng, ngoài pháp luật quy định ràng buộc, nó có “lời thề lương tâm” nào của luật sư không ạ?

Có đấy. Khi đã chọn nghề luật sư, mỗi người chúng tôi đều có “lời thề lương tâm” với bản thân mình. Đó là không được phép phản bội lại khách hàng của mình.

–  Nếu LS làm lộ thông tin khách hàng, quy định của luật pháp, luật sư phải bồi thường, pháp luật chế tài, xử phạt như thế nào? Có điều luật nào quy định về vấn đề này?

Điểm c khoản 1 điều 9 Luật luật sư nghiêm cấm luật sư: “Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;”. Theo đó, nếu gây thiệt hại cho khách hàng của mình, điều này được quy định tại khoản 5 điều 40 luật này: “Bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác.”.

Luật sư Nguyễn Kiều Hưng
Luật sư Nguyễn Kiều Hưng

–  Dự thảo BLHS sửa đổi năm 2015 đã bổ sung quy định luật sư phải tố cáo thân chủ nếu thấy thân chủ có hành vi phạm tội. Theo ông thì quy định này có hợp lý không, hay có mâu thuẫn với điều luật nào của Luật Luật sư?

Đây là một quy định vô lý, thiếu tính thực tiễn và trái với chuẩn mực hành nghề luật sư chung của thế giới. Quy định này trái với điểm c khoản 1 điều 9 Luật luật sư nghiêm cấm luật sư: “Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;”, như tôi đã nói ở trên.

–  Mới đây, có ý kiến cho rằng, đại biểu Nguyễn Thị Thủy (Bắc Kạn) trong phát biểu và thảo luận tại kỳ họp Quốc hội đồng tình với điều luật bổ sung này nhưng xác định LS chỉ phải tố cáo thân chủ các tội gây nguy hại cho an ninh quốc gia, tội nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy ông thấy đã chấp nhận được chưa, vì với các tội thông thường LS không bị buộc phải tố cáo nữa?

Tôi nghĩ, những người có quan điểm ủng hộ quy định này đã đánh đồng hai chủ thể “luật sư” và “công dân” làm một. Nếu tách bạch ra, tức khi không nằm trong mối quan hệ với thân chủ, luật sư vẫn là một công dân, nên anh vẫn phải có nghĩa vụ tố giác tội phạm, cũng như không được phép che giấu tội phạm. Tức anh cũng phải thực hiện nghĩa vụ của một công dân bình thường. Còn khi hành nghề, luật sư phải tuân thủ các nguyên tắc hành nghề mà pháp luật cũng như chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà tổ chức đưa ra. Rằng, trong mọi trường hợp, luật sư không được phép tiết lộ bí mật của thân chủ. Và tất nhiên, vấn đề tố giác thân chủ thì tuyệt đối không được làm, vì làm như vậy là phản bội lại thân chủ và nghề nghiệp của mình.

– Ông có thể phân biệt giúp tội thông thường với tội “nghiêm trọng” và “đặc biệt nghiêm trọng” không?

Khoản 3 điều 8 Bộ luật hình sự quy định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”. Ví dụ: khoản 1 điều 93 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Mức cao nhất của khung hình phạt với tội danh này là tử hình, nên nó thuộc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– Khi xác định mức độ phạm tội (thông thường, nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng), luật pháp có quy định căn cứ trên mục đích phạm tội không?

Không, như đã nói ở trên.

–  Cứ giả sử ông đang trong hoàn cảnh đó, nếu hành vi của thân chủ (đã, đang, hoặc sẽ xảy ra) gây nguy hại cho an ninh quốc gia, ông biết được, thì giữa lương tâm con người, trách nhiệm công dân và nghĩa vụ bảo mật của ông sẽ xung đột như thế nào? Ông sẽ giải quyết tình huống này như thế nào?

Đây là một giả thiết hay, đặt trong mối quan hệ với thân chủ, tôi đang bảo vệ anh này trong một hành vi khác, thì tôi tuyệt đối bảo vệ bí mật trong phạm vi mối quan hệ này. Tuy nhiên thông qua đó, nếu phát hiện một hành vi độc lập khác, có khả năng nguy hại đến an ninh quốc gia, như khủng bố chẳng hạn (tất nhiên là khó xảy ra), tôi sẽ thoát ra khỏi tư cách luật sư để làm nghĩa vụ của một công dân, để tố giác hành vi đó, nhằm bảo vệ lợi ích Quốc gia.

– Khi hành vi chưa xảy ra hoặc xảy ra rồi, ông có thể xác định được tính chất mức độ hành vi của thân chủ sẽ là tội thông thường hay tội “nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng”, hay tội gây nguy hại cho an ninh quốc gia, để tố giác không?

Về tính chất mức độ thì có quy định nên hoàn toàn có thể phân loại và xác định được. Nhưng nếu chỉ nghe người ta nói về một âm mưu phạm tội chẳng hạn, hành vi chưa xảy ra thì không thể kết luận đó là tội trạng ở mức nào được. Kể cả hành vi đã xảy ra rồi nhưng nếu tòa chưa tuyên án thì bất cứ ai cũng được quyền tự nhận định, “gắn” cho người ta mức độ phạm tội. Khoản 1 điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Do đó, quy định LS phải tố giác thân chủ với các tội trạng như trên, không khác gì gây khó cho luật sư.

– Nếu phải tố cáo thân chủ, ông sẽ sợ nhất điều gì sau đó?

Tôi sợ sau đó nếu kết quả điều tra cho thấy người bị tố cáo không phạm tội như vậy, hóa ra LS lại là người vu khống thân chủ.

Và không chỉ tôi mà hầu hết các anh em đồng nghiệp đều sợ, đó là mất nghề.

– Các quốc gia trên thế giới họ quy định thế nào về sự xung đột nghĩa vụ công dân và nghĩa vụ bảo mật, cũng như bổn phận gỡ tội này của luật sư?

Theo hiểu biết hạn chế của tôi, hầu hết luật pháp của các quốc gia phát triển trên thế giới, nghĩa vụ bảo mật thông tin thân chủ của luật sư là bắt buộc tuyệt đối. Một số nước trước khi được phép hành nghề, luật sư phải đọc lời tuyên thệ về bảo mật thông tin cho khách hàng.

– Là một luật sư, có điều kiện tham khảo đồng nghiệp, ông nhận xét cộng đồng luật sư đang có xu hướng ý kiến chung về điều luật sửa đổi bổ sung này như thế nào, và họ có yêu cầu đề nghị gì?

Tôi không rõ dụng ý của người chấp bút đưa quy định này vào dự thảo là gì? nhưng rõ đó là một quy định thừa, và gây tác động tiêu cực đến hoạt động hành nghề luật sư, vốn còn rất non trẻ tại Việt Nam. Chúng tôi mong muốn, quy định này sẽ được bỏ ra khỏi Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung lần này. Bởi như đã nói, tư cách luật sư chỉ xác lập khi chúng tôi hành nghề, ngoài hành nghề, khi không nằm trong mối quan hệ với thân chủ, chúng tôi là một công dân bình thường và phải thực hiện nghĩa vụ của một công dân, trong đó có nghĩa vụ “tố giác tội phạm”.

Xin cám ơn luật sư!

Đặng Vỹ thực hiện

Nguồn: nhaquanly.vn



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.