VÌ CÔNG LÝ
Kênh thông tin tư vấn pháp luật

Lừa tiền xin việc, tội gì?

Tôi có một đồng nghiệp làm lái xe tên Hùng tại cơ quan, vào giưa năm 2015 cơ quan tôi có tuyển xét tuyển lái xe vào làm việc. Tôi có người cháu muốn xin vào làm việc, tôi đã giới thiệu gặp Hùng vì nghĩ rằng sau này được kiểm tra tay lái thì Hùng sẽ tư vấn thêm. Sau đó Hùng nhận lời gửi hồ sơ vào, được ít ngày Hùng nói bảo đứa cháu chuẩn bị tiền để chi phí cho vấn đề xin vào làm việc với số tiền 60.000.000 vnđ đưa làm 3 lần và Hùng đã tự tay viết 3 giấy nhận tiền cam kết không xin được việc cho sẽ trả lại, sau đó ký tên gửi lại cho cháu tôi. Tuy nhiên sau đó chau tôi đã bị loại hồ sơ. Tôi với trách nhiệm của mình đã bảo Hùng trả lại tiền cho người cháu của tôi, nhưng Hùng cứ khất, đến nay vẫn chưa trả. Xin hỏi Luật sư là tôi và cháu tôi phải làm thế nào nếu như Hùng không chịu trả tiền, nếu đưa ra pháp luật thì Hùng sẽ phải chịu trách nhiệm gì và bản thân tôi có vi phạm pháp luật không?

Lừa tiền xin việc
Ảnh minh họa , internet

Luật sư tư vấn như sau:

Thứ nhất, về hiệu lực của giao dịch dân sự giữa bạn và Hùng.

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch giữa  bạn và Hùng về việc bạn đưa cho Hùng 60 triệu VNĐ là tiền xin việc là một giao dịch được thực hiện hoàn toàn do sự tự nguyện, thỏa thuận của các bên, tuy nhiên, việc “ nhận tiền, chạy việc” trên không được pháp luật cho phép, vậy nên giao dịch dân sự trên là giao dịch trái pháp luật. Giao dịch trên bị coi là vô hiệu vì nội dung và mục đích của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật. Theo đó, hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu sẽ được thực hiện theo như Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005: “.. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền…”

Thứ hai, hành vi chạy việc của Hùng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.”

 Như vậy trong tình huống của bạn, Hùng đã nhận số tiền 60 triệu và có ký giấy xác nhận, ngoài ra Hùng có hứa là xin việc cho cháu của bạn như đã thỏa thuận với  bạn nhưng cho đến nay Hùng vẫn không thực hiện và cố tình không trả lại tiền cho bạn. Do đó, hành vi của Hùng (hứa lo chạy việc cho cháu bạn nhưng thực tế, Hùng không có thẩm quyền quyết định là có nhận cháu bạn vào làm việc hay không) đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm e Khoản 2 Điều 139 BLHS sửa đổi bổ sung 2009.

 Thứ ba, để bảo vệ cho quyền lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể tố giác tội phạm với Cơ quan công an cấp huyện về hành vi lừa đảo của Hùng. Để chứng minh cho việc tố giác hành vi phạm tội, bạn phải cung cấp các chứng cứ như các giấy tờ để chứng minh như  biên bản giao nhận tiền ngày nào, giấy xác nhận mỗi lần Hùng nhận tiền từ bạn và  biên bản cam kết về việc không xin được việc sẽ trả lại tiền.

Thứ tư, còn việc bạn đưa tiền cho Hùng nhằm lo lót công việc thì có thể bị xử phạt hành chính về hành vi đưa hối lộ hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội đưa hối lộ quy định Điều 289 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009, điều này còn tùy vào mức độ của hành vi, giá trị khoản tiền và người bạn đưa tiền phải là người có chức vụ, quyền hạn. Như vậy, nếu Hùng không có chức vụ, quyền hạn thì không phải là tội đưa hối lộ.

Nguyễn Thị Mỹ Hiền

Nguồn: Chuyên mục tư vấn pháp luật miễn phí do hãng luật Giải Phóng thực hiện

Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.
Bài cùng chuyên mục