Người thuê nhà cho người lạ vào ở, báo công an được...

Người thuê nhà cho người lạ vào ở, báo công an được không?

719
SHARE

Hiện gia đình tôi có cho thuê phòng trọ, phường có yêu cầu về phòng trọ không cho phép người lạ ở tại phòng không nằm trong danh sách thuê phòng sau 23h khuya nếu phường kiểm tra và phát hiện sẽ bị phạt cả người cho thuê và người thuê phòng trọ.

Gia đình tôi nhiều lần nhắc nhở người thuê phòng không cho người lạ ở lại phòng và buộc rời đi sau 23h khuya nhưng người thuê vẫn cố tình hoặc lén đưa người lạ về cho ngủ lại ở qua đêm sáng sớm lén rời đi những lúc thế này rất khó phát hiện, có nhắc thì cũng được 1-2 hôm thì cũng lại vi phạm.

Trong trường hợp này:

1/ Gia đình tôi có được phép buộc người thuê phải kí cam kết thỏa thuận không đưa người lạ về phòng sau 23h khuya và chịu mọi khoản phạt (kể cả khoản phạt của người cho thuê) nếu họ vi phạm hay không.

2/ Nếu CA phường, khu phố kiểm tra phát hiện được và phạt thì gia đình tôi có được buộc người thuê đóng mọi khoản phạt mà tự họ vị phạm và cũng làm cho gia tôi phải đóng phạt theo.

3/ Nếu sau 23h gia đình tôi phát hiện được nhưng không nhắc nhở nữa mà âm thầm báo công an yêu cầu họ kiểm tra thì trong trường hợp này gia đình tôi có bị phạt không và tiền phạt có những mức nào nếu bị kiểm tra bất ngờ mà không phải do gia đình tôi thông báo.

(ảnh ST)
Người thuê nhà tự ý cho người lạ vào ở mà không báo, phải làm sao?(ảnh ST)

Dưới đây là nội dung tư vấn của luật sư:

Chào bạn!

Đối với vướng mắc của bạn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Trường hợp người đến ở qua đêm như bạn trình bày không phải là không được ở lại mà vẫn được ở lại qua đêm nhưng phải thông báo đến cơ quan công an xã, phường, thị trấn. Theo điều 31 luật cư trú, đây là thủ tục thông báo lưu trú. Cụ thể quy định như sau:

“Điều 31. Lưu trú và thông báo lưu trú

1. Lưu trú là việc công dân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của mình và không thuộc trường hợp phải đăng ký tạm trú.

2.[8] Đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác khi có người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn; trường hợp người đến lưu trú tại nhà ở của gia đình, nhà ở tập thể mà chủ gia đình, nhà ở tập thể đó không đăng ký thường trú tại địa bàn xã, phường, thị trấn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trực tiếp hoặc bằng điện thoại hoặc qua mạng Internet, mạng máy tính. Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thông báo địa điểm, địa chỉ mạng Internet, địa chỉ mạng máy tính, số điện thoại nơi tiếp nhận thông báo lưu trú cho nhân dân biết.

3. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ, nếu người đến lưu trú sau 23 giờ thì thông báo lưu trú vào sáng ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần.…”

Mức phạt tiền đối với hành vi của cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo đúng quy định trên là từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo điểm đ khoản 2 điều 8 nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Trở lại vấn đề giữa gia đình bạn là bên cho thuê và bên thuê nhà, các bên khi thỏa thuận về việc thuê và cho thuê nhà, ngoài việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của hai bên theo quy định của luật nhà ở thì việc cho thuê – thuê nhà ở còn phải bảo đảm các quy định của pháp luật khác có liên quan. Cụ thể trong trường hợp này là pháp luật về cư trú.

Do vậy để bảo đảm quyền lợi của mình, khi lập hợp đồng cho thuê nhà bạn nên thỏa thuận rõ với bên thuê nhà và ghi vào hợp đồng thông tin cụ thể của những người thuê nhà và bên cho thuê chỉ có trách nhiệm đăng ký tạm trú cho những người này. Và thêm điều khoản về trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện quy định của pháp luật cư trú trong vấn đề thông báo lưu trú.

Trong quá trình thỏa thuận trong hợp đồng, bạn có quyền đồng ý hoặc không đồng ý cho người thân, bạn bè của người thuê nhà đến ở trong nhà cho thuê đó trong một thời gian ngắn và trường hợp bạn đồng ý thì nêu rõ điều kiện như thế nào…

chẳng hạn như: trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê nhà người thân thích (cha, mẹ, anh, chị, em ruột…) của người thuê nhà có thể đến ở trong một thời gian ngắn tại nhà ở thuê đó với điều kiện người thuê phải thông báo và được sự đồng ý của người cho thuê để người cho thuê thực hiện thủ tục thông báo lưu trú theo quy định của pháp luật.

Bạn có thể thỏa thuận trước là không đồng ý cho những người không phải những người thân thích nêu trên của người thuê nhà đến ở qua đêm trong nhà cho thuê, hoặc chấp thuận người lạ đến ở quan đêm với điều kiện tương tự như trên…

Và ghi nhận vào hợp đồng cùng với những thỏa thuận khác để bảo đảm người thuê nhà thực hiện đúng cam kết. Chẳng hạn như nếu người thuê không thực hiện đúng theo thỏa thuận trên, tự ý cho người lạ đến ở mà không thông báo… Dẫn đến việc vi phạm các quy định về thông báo lưu trú thì có trách nhiệm phải bồi thường cho chủ nhà cho thuê một khoảng tiền tương ứng với mức phạt tiền mà chủ cho thuê bị xử phạt vi phạm hành chính do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của người thuê nhà.

Ngoài ra cũng xin thông tin thêm, mặc dù theo khoản 2 điều 31 được trích dẫn ở trên, trường hợp chủ nhà cho thuê không thường trú tại địa bàn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo. Tuy nhiên theo quy định của nghị định 167 nêu trên thì trường hợp không thông báo lưu trú kịp thời thì người bị xử phạt vi phạm hành chính là chủ cơ sở kinh doanh lưu trú chứ không phải là người đến lưu trú. Hơn nữa, thủ tục thông báo lưu trú cũng vô cùng đơn giản nên bạn nên tự mình thực hiện việc thông báo lưu trú đến cơ quan công an địa phương để tránh việc thông báo bị chậm trễ.

Trong trường hợp của bạn, do trong hợp đồng thuê nhà trước đó không có thỏa thuận về việc này. Nên để giải quyết vấn đề của mình, bạn và gia đình không nên âm thầm báo công an mà nên tiến hành thỏa thuận lại về vấn đề này với người thuê nhà và ghi nhận vào một bản phụ lục hợp đồng kèm theo hợp đồng chính để có căn cứ giải quyết khi bên thuê có hành vi vi phạm hợp đồng.

Trường hợp bên thuê nhà không đồng ý với yêu cầu bổ sung này thì hai bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê nhà theo điểm b khoản 2 điều 131 luật nhà ở.

Mong rằng nội dung tư vấn có thể giải đáp phần nào vướng mắc của bạn.

Nếu cần tư vấn thêm vui lòng gọi 1900 6665 để gặp luật sư hoặc truy cập mục hỏi đáp pháp luật để tìm hiểu thêm.

 Lê Thị Mai Hoa

Nguồn: Chuyên mục tư vấn pháp luật miễn phí do hãng luật Giải Phóng thực hiện



Đọc tin pháp luật mới nhất trên Vì Công Lý. Để phản ánh thông tin hoặc gửi câu hỏi tư vấn pháp luật miễn phí, vui lòng gửi đến vicongly.com@gmail.com hoặc gọi Tổng đài 1900 6665.